Language:

Phổ biến pháp luật

Luật Thương mại năm 2005

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính cho biết, Luật Thương mại năm 2005 được Quốc hội ban hành ngày 27/6/2005. Luật này điều chỉnh Hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hoạt động thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp các bên thỏa thuận chọn áp dụng Luật này hoặc luật nước ngoài, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng Luật này.

Luật Đầu tư năm 2020

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính cho biết, Luật Đầu tư năm 2020 được Quốc hội ban hành ngày 17 /06/2020. Luật này quy định về hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và hoạt động đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài.

Luật Doanh nghiệp năm 2020

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính cho biết, Luật Doanh nghiệp năm 2020 được Quốc hội ban hành ngày 17/6/2020. Luật này quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp, bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân; quy định về nhóm công ty.

Hợp đồng hợp tác

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính tư vấn và soạn thảo hợp đồng hợp tác, giải quyết tranh chấp hợp đồng giữa các bên. Để tránh các rủi ro pháp lý khi hợp tác đầu tư kinh doanh, các bên cần tư vấn luật sư để thực hiện việc soạn thảo hợp đồng với các điều khoản chặt chẽ, đúng quy định pháp luật, hạn chế các tranh chấp về sau.

Nội dung của hợp đồng hợp tác (Điều 505)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 505 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nội dung của hợp đồng hợp tác. Theo đó, hợp đồng hợp tác có nội dung chủ yếu như: Mục đích, thời hạn hợp tác; Họ, tên, nơi cư trú của cá nhân; tên, trụ sở của pháp nhân; Tài sản đóng góp (nếu có); Đóng góp bằng sức lao động (nếu có); Phương thức phân chia hoa lợi, lợi tức; Quyền, nghĩa vụ của thành viên hợp tác; Quyền, nghĩa vụ của người đại diện (nếu có); Điều kiện tham gia và rút khỏi hợp đồng hợp tác của thành viên (nếu có); Điều kiện chấm dứt hợp tác.

Hợp đồng hợp tác (Điều 504)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 504 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hợp đồng hợp tác. Theo đó, hợp đồng hợp tác là sự thỏa thuận giữa các cá nhân, pháp nhân về việc cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm. Hợp đồng hợp tác phải được lập thành văn bản.

Yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại khoản 4 Điều 22 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định: Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.

Biểu mẫu đăng ký kết hôn chỉ có nội dung ngày đăng ký kết hôn nhưng không có nội dung ghi về ngày hôn nhân được xác lập đối với những trường hợp đăng ký lại kết hôn

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, mẫu giấy tờ hộ tịch và Sổ hộ tịch đã được ban hành kèm theo Thông tư số 15/2015/TT-BTP, Giấy chứng nhận kết hôn đã được Bộ Tư pháp in, phát hành theo Phụ lục 1, tại Thông tư. Kiến nghị của địa phương, Sở Tư pháp ghi nhận và sẽ có ý kiến với Bộ Tư pháp. Tuy nhiên tại khoản 3 Điều 22 Thông tư số 15/2015/TT-BTP hướng dẫn: Ngày quan hệ hôn nhân được công nhận trong trường hợp đăng ký lại kết hôn, đăng ký hôn nhân thực tế theo quy định tại khoản 2 Điều 44 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, việc đăng ký lại kết hôn theo quy định tại Điều 13 của Luật Hôn nhân và gia đình cũng được ghi vào phần “nội dung ghi chú” của mặt sau Giấy chứng nhận kết hôn.