Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích về trình tự xác minh điều kiện thi hành án dân sự. Theo quy định tại Điều 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 17 Điều 1 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 thì việc xác định điều kiện thi hành án dân sự. Theo đó, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay. Tại Điều 9 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số, Nghị định số 120/2016/NĐ-CP, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP về việc xác minh điều kiện thi hành án quy định
Xác minh điều kiện thi hành án dân sự
Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích về việc xác minh điều kiện thi hành án dân sự thực hiện ra sao? Tại Điều 21 Nghị định 152/2026/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự năm 2025 quy định việc xác minh điều kiện thi hành án dân sự như sau: Khi xác minh điều kiện thi hành án, Chấp hành viên xác minh cụ thể thông tin về tài sản, thu nhập; số định danh cá nhân, tình trạng hôn nhân; số định danh của cơ quan, tổ chức, mã số doanh nghiệp, hợp tác xã; trụ sở, nơi thường trú, nơi tạm trú, nơi ở hiện tại và các thông tin cần thiết khác về điều kiện thi hành án. Việc xác minh trên môi trường số được thực hiện thông qua nền tảng số thi hành án dân sự, cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự được kết nối với các Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu khác hoặc phương tiện điện tử khác theo quy định của pháp luật.

