Luật sư Hà Thị Khuyên
Luật sư Nguyễn Văn Đồng
Việc xử lý việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành sẽ được thực hiện theo Nghị định 152/2026/NĐ-CP, khi thuộc trường hợp nếu hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và đã xác minh theo quy định.
1. Xử lý việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành:
Tại Điều 22 Nghị định 152/2026/NĐ-CP về xử lý việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành nêu rõ, trường hợp nếu hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và đã xác minh theo quy định tại khoản 3 Điều 38 của Luật Thi hành án dân sự mà không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý như sau:
Thứ nhất, đối với việc cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự chuyển sang sổ theo dõi để thống kê riêng. Khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh và tổ chức thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 38 của Luật Thi hành án dân sự.
Thứ hai, đối với việc cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án theo yêu cầu thì cơ quan thi hành án dân sự thông báo bằng văn bản về việc gửi lại yêu cầu thi hành án cho người đã yêu cầu. Yêu cầu thi hành án và tài liệu kèm theo phải được sao chụp và lưu trong hồ sơ thi hành án. Thông báo về việc gửi lại yêu cầu thi hành án phải gửi cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền.
Sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã gửi lại yêu cầu thi hành án mà đương sự yêu cầu thi hành án trở lại thì phải cung cấp tài liệu chứng minh người phải thi hành án có điều kiện thi hành. Trường hợp có căn cứ xác định người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật.
Việc yêu cầu thi hành án trở lại thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 9 Nghị định 152/2026/NĐ-CP.
Thi hành án chưa có điều kiện thi hành như sau:
Tại Điều 38 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành như sau:
(1) Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:
- Người phải thi hành án không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án;
- Trường hợp bản án, quyết định tuyên xử lý tài sản nhưng tại thời điểm thi hành án, kết quả xác minh cho thấy tài sản đó không còn hoặc không xác định được nơi có động sản hoặc tài sản đó đã bị thu hồi giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, trừ trường hợp người phải thi hành án có thu nhập, tài sản khác để thi hành án;
- Chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người được giao cho người khác nuôi dưỡng hoặc chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người được giao nuôi dưỡng;
- Thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc bị hư hỏng đến mức không sử dụng được mà đương sự không có thỏa thuận khác; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ đó không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được hoặc đã thực hiện chuyển giao cho cơ quan ban hành giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật Thi hành án dân sự 2025;
- Trường hợp thi hành nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ không được chuyển giao nhưng người đó bị mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án;
- Trường hợp tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp mà giá trị của tài sản đó nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc bán tài sản quy định tại điểm d khoản 3 Điều 78 Luật Thi hành án dân sự 2025 nhưng sau khi giảm giá mà giá trị tài sản bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp người phải thi hành án có thu nhập, tài sản khác để thi hành án;
- Trường hợp bán tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 83 Luật Thi hành án dân sự 2025 mà giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và người được thi hành án không nhận để trừ vào tiền được thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án có thu nhập, tài sản khác để thi hành án;
- Tài sản của người phải thi hành án đang bị thu giữ, xử lý để bảo đảm cho khoản nợ xấu theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng 2024 mà người phải thi hành án không có thu nhập, tài sản khác để thi hành án.
(2) Thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ thi hành của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành được đăng tải trên cổng thông tin điện tử về thi hành án dân sự và gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm yết.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh. Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án ra quyết định tiếp tục thi hành án, trừ trường hợp đã gửi lại yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều 38 Luật Thi hành án dân sự 2025.
(3) Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành thì ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; đối với người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì ít nhất 01 năm một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án.
(4) Hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và đã xác minh theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Thi hành án dân sự 2025 mà không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự gửi lại yêu cầu thi hành án. Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành án trở lại theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025 khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành hoặc có quyền yêu cầu văn phòng thi hành án dân sự thi hành án theo quy định tại Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025.
Liên hệ tư vấn và mời luật sư: 0936683699 - 0983951338









