Language:

Hành vi phạm tội

Phân loại tội phạm (Điều 9)
Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, quy định phân loại tội phạm vừa là biểu hiện cơ bản của nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự vừa là cơ sở cho sự phân hóa trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Dưới đây, luật sư của chúng tôi phân tích về quy định "Phân loại tội phạm" tại Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 6)
Luật sư Hà Thị Khuyên và Luật sư Nguyễn Văn Đồng, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Bộ luật này quy định là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật Hình sự. Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam.
Xử lý đối với người thực hiện một hoặc nhiều hành vi, nhưng thỏa mãn cấu thành tội phạm của nhiều tội
Luật sư Hà Thị Khuyên và Luật sư Nguyễn Văn Đồng, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích trường hợp người thực hiện một hoặc nhiều hành vi, nhưng thỏa mãn cấu thành tội phạm của nhiều tội. Tại mục 10 Phần I Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13-9-2019 của Toà án nhân dân tối cao giải đáp vướng mắc đối với trường hợp người thực hiện hành vi làm giả giấy tờ, tài liệu của cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã giải đáp: “Hành vi làm giả giấy tờ, tài liệu của cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã xâm phạm vào 02 khách thể khác nhau được Bộ luật hình sự bảo vệ (quy định tại Điều 174 và Điều 341 của Bộ luật Hình sự), nên nếu hành vi đó có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm thì bị xử lý hình sự về cả tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) và tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Điều 341).