Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính cho biết, Luật Doanh nghiệp năm 2020 được Quốc hội ban hành ngày 17/6/2020. Luật này quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp, bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân; quy định về nhóm công ty.
Vốn góp
Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 81 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tài sản của pháp nhân. Theo đó, tài sản của pháp nhân bao gồm vốn góp của chủ sở hữu, sáng lập viên, thành viên của pháp nhân và tài sản khác mà pháp nhân được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.
Luật sư Hà Thị Khuyên và Luật sư Nguyễn Văn Đồng, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích cổ đông rút vốn khỏi công ty cổ phần được quy định ra sao? Cổ đông không được tự ý rút vốn trực tiếp ra khỏi công ty cổ phần dưới mọi hình thức, mà chỉ được "thoái vốn" thông qua việc chuyển nhượng cổ phần hoặc yêu cầu công ty mua lại theo quy định pháp luật. Theo Luật Doanh nghiệp, các hình thức rút vốn hợp pháp bao gồm: chuyển nhượng cổ phần (tự do với cổ đông phổ thông, có điều kiện với cổ đông sáng lập trong 3 năm đầu), yêu cầu công ty mua lại khi không đồng thuận với nghị quyết tái cơ cấu hoặc đổi quyền hạn (trong 10 ngày), công ty chủ động mua lại cổ phần, hoặc giảm vốn điều lệ hoàn trả cổ đông khi hoạt động từ 02 năm trở lên và đảm bảo trả nợ. Việc tự ý rút vốn trái phép sẽ khiến cổ đông phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi giá trị đã rút.


