Language:
Khi đăng ký bảo hộ bản quyền tác giả cần lưu ý những vấn đề gì?
28/08/2026
icon-zalo

Liên quan đến vấn đề Đăng ký bảo hô bản quyền tác giả. Phóng viên Báo Công lý đã có cuộc trao đổi với Luật sư Nguyễn Văn Đồng, Trưởng Văn phòng Luật sư Nhân Chính (Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội).

Phóng viên: Thưa luật sư, những loại tác phẩm nào được bảo hộ quyền tác giả và việc đăng ký quyền tác giả có bắt buộc theo quy định pháp luật hiện hành không?

Luật sư Nguyễn Văn Đồng: Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả được bảo hộ đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình và không sao chép từ tác phẩm của người khác. Các loại hình tác phẩm được bảo hộ khá rộng, bao gồm tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và các tác phẩm thể hiện bằng chữ viết hoặc ký tự khác; bài giảng, bài phát biểu, bài nói; tác phẩm báo chí; âm nhạc; sân khấu; điện ảnh; mỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng; nhiếp ảnh; kiến trúc; bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ; tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; chương trình máy tính và sưu tập dữ liệu. Tác phẩm phái sinh cũng có thể được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được sử dụng để tạo ra tác phẩm phái sinh.

Một điểm cần đặc biệt nhấn mạnh là đăng ký quyền tác giả không phải là điều kiện bắt buộc để quyền tác giả phát sinh. Theo Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định; việc nộp hồ sơ đăng ký nhằm ghi nhận thông tin về tác giả, tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả, chứ không phải là điều kiện làm phát sinh quyền.

Tuy nhiên, từ thực tiễn hành nghề, tôi cho rằng tác giả, doanh nghiệp, tổ chức nên chủ động đăng ký đối với những tác phẩm có giá trị kinh tế, thương mại hoặc có khả năng phát sinh tranh chấp. Lý do là Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả có giá trị rất quan trọng về mặt chứng cứ. Khi tranh chấp xảy ra, việc có sẵn Giấy chứng nhận sẽ giúp chủ thể quyền thuận lợi hơn đáng kể trong việc chứng minh tư cách chủ thể quyền và các thông tin liên quan đến tác phẩm. Nói cách khác, đăng ký không phải “điều kiện để được bảo hộ”, nhưng là một công cụ pháp lý rất hữu hiệu để củng cố khả năng bảo vệ quyền.

Phóng viên: Cá nhân, tổ chức cần chuẩn bị hồ sơ và thực hiện trình tự, thủ tục đăng ký quyền tác giả như thế nào; trường hợp có đồng tác giả hoặc tác phẩm được tạo ra theo nhiệm vụ thì xác định chủ sở hữu ra sao?

Luật sư Nguyễn Văn Đồng: Về hồ sơ, về cơ bản người đăng ký cần chuẩn bị tờ khai đăng ký quyền tác giả, hai bản sao tác phẩm đăng ký, giấy ủy quyền nếu nộp hồ sơ thông qua người được ủy quyền và các tài liệu chứng minh quyền nộp đơn, chứng minh tư cách chủ sở hữu trong trường hợp quyền không chỉ phát sinh từ việc cá nhân trực tiếp sáng tạo tác phẩm. Đối với trường hợp có đồng tác giả thì phải có văn bản đồng ý của các đồng tác giả; trường hợp quyền tác giả thuộc sở hữu chung thì phải có văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu. Các tài liệu bằng tiếng nước ngoài thuộc diện phải nộp theo hồ sơ phải được dịch ra tiếng Việt theo quy định.

Trình tự thực hiện hiện nay tương đối rõ ràng. Tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả, hoặc người được ủy quyền, nộp một bộ hồ sơ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ, nếu hồ sơ hợp lệ thì cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả trong thời hạn 15 ngày làm việc; nếu từ chối thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Quy định hiện hành về thủ tục cũng yêu cầu tài liệu chứng minh quyền sở hữu do giao nhiệm vụ hoặc giao kết hợp đồng phải được cung cấp phù hợp với quy định pháp luật.

Đối với đồng tác giả, cần phân biệt rất rõ giữa “tác giả” và “chủ sở hữu quyền tác giả”. Tác giả là người trực tiếp sáng tạo tác phẩm; nếu từ hai người trở lên cùng trực tiếp sáng tạo với chủ ý đóng góp của họ được kết hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh thì họ là đồng tác giả. Người chỉ hỗ trợ, góp ý hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo tác phẩm không đương nhiên trở thành đồng tác giả. Nếu tác phẩm có phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập mà không ảnh hưởng đến phần của người khác thì đồng tác giả có thể có quyền đối với phần riêng biệt đó; nếu không, các đồng tác giả cùng có quyền đối với toàn bộ tác phẩm và việc thực hiện quyền phải dựa trên sự thỏa thuận của họ.

Đối với tác phẩm được tạo ra theo nhiệm vụ hoặc theo hợp đồng, đây là vấn đề rất dễ phát sinh tranh chấp trên thực tế. Theo Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ, trường hợp tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả là người thuộc tổ chức mình thì tổ chức đó là chủ sở hữu các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Tương tự, tổ chức hoặc cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả để sáng tạo tác phẩm cũng là chủ sở hữu các quyền này, trừ khi hợp đồng có thỏa thuận khác. Vì vậy, trong quan hệ lao động, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng sáng tạo hoặc hợp đồng đặt hàng, tôi đặc biệt khuyến nghị các bên phải quy định thật rõ ai là tác giả, ai là chủ sở hữu, phạm vi quyền được chuyển giao, quyền công bố, quyền sửa đổi, quyền khai thác thương mại và cơ chế phân chia lợi ích.

Riêng trường hợp tác phẩm được sáng tạo bằng ngân sách nhà nước theo phương thức đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc đấu thầu, cần xem xét quy định đặc thù về đại diện chủ sở hữu của Nhà nước. Đây là nhóm trường hợp không nên chỉ căn cứ vào việc “ai trực tiếp viết hoặc sáng tạo” để kết luận ai là chủ sở hữu, mà phải đối chiếu nguồn kinh phí, phương thức giao nhiệm vụ và các thỏa thuận, quyết định có liên quan.

Phóng viên: Khi quyền tác giả bị xâm phạm, Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả có giá trị pháp lý như thế nào và chủ thể quyền có thể áp dụng những biện pháp nào để bảo vệ quyền lợi hợp pháp?

Luật sư Nguyễn Văn Đồng: Khi quyền tác giả bị xâm phạm, Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt chứng cứ. Theo Luật Sở hữu trí tuệ, Giấy chứng nhận có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Trong tranh chấp tại Tòa án, nguyên đơn có thể sử dụng bản sao Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả để chứng minh mình là chủ thể quyền; đây là một trong những loại chứng cứ được pháp luật trực tiếp ghi nhận. Nếu không có Giấy chứng nhận, chủ thể quyền vẫn có thể bảo vệ quyền của mình, nhưng phải cung cấp các chứng cứ cần thiết khác để chứng minh căn cứ phát sinh quyền tác giả và quyền sở hữu của mình.

Từ góc độ thực tiễn, cần hiểu rằng Giấy chứng nhận không phải là “lá chắn tuyệt đối” và cũng không có nghĩa mọi thông tin ghi trên giấy mặc nhiên không thể bị tranh luận. Pháp luật cho phép hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận trong trường hợp người được cấp không phải là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, tác phẩm không thuộc đối tượng bảo hộ hoặc có thông tin kê khai không chính xác, không trung thực theo quy định. Vì vậy, hồ sơ đăng ký phải trung thực, đầy đủ và người đăng ký phải có khả năng chứng minh nguồn gốc quyền khi cần thiết.

Khi xảy ra hành vi xâm phạm, chủ thể quyền có thể trước hết tự bảo vệ bằng cách yêu cầu bên vi phạm chấm dứt hành vi, gỡ bỏ hoặc xóa nội dung vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại; đồng thời có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hoặc khởi kiện tại Tòa án, Trọng tài để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tùy tính chất, mức độ của hành vi, pháp luật cho phép áp dụng các biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự.

Đặc biệt trong môi trường Internet và mạng xã hội, việc bảo vệ quyền tác giả cần được thực hiện càng sớm càng tốt. Chủ thể quyền nên lưu giữ bản gốc, bản định hình tác phẩm, dữ liệu chứng minh thời điểm sáng tạo, lịch sử công bố, hợp đồng và các tài liệu liên quan; đồng thời lập chứng cứ về hành vi vi phạm như đường dẫn, hình ảnh, bản sao nội dung vi phạm và thời điểm phát hiện. Nếu có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả thì đây sẽ là một lợi thế rất lớn khi yêu cầu bên vi phạm chấm dứt hành vi hoặc khi tiến hành các thủ tục tố tụng. Nói ngắn gọn, đăng ký quyền tác giả không làm phát sinh quyền, nhưng đăng ký đúng và đầy đủ có thể biến một quyền khó chứng minh thành một quyền có cơ sở chứng cứ rõ ràng hơn rất nhiều khi tranh chấp xảy ra.

Liên hệ tư vấn và mời luật sư: 0936683699 - 0983951338

Tags
đăng ký bản quyền tác giả Bản quyền tác giả Thủ tục đăng ký bản quyền tác giả Bảo hộ bản quyền tác giả Bảo hộ bản quyền Tư vấn đăng ký bảo hộ bản quyền Dịch vụ đăng ký bảo hộ bản quyền Cơ quan đăng ký bản quyền tác giả Giấy chứng nhận bản quyền tác giả Cần tìm luật sư Công ty luật Dịch vụ luật sư Dịch vụ luật sư uy tín Dịch vụ pháp lý Danh sách luật sư Hà Nội Danh bạ luật sư Đoàn luật sư Hà Nội Liên đoàn luật sư Việt Nam Nhanchinh.vn Tư vấn luật Tư vấn pháp luật Trợ giúp pháp lý Tìm luật sư Tìm luật sư giỏi Văn phòng Luật sư Nhân Chính Văn phòng luật sư Văn phòng luật sư uy tín Văn phòng luật sư gần nhất Văn phòng luật sư Hà Nội Văn phòng luật sư uy tín tại Hà Nội luật sư Đồng luật sư nguyễn văn đồng luật sư khuyên luật sư hà thị khuyên Luật Nhân Chính Luật sư Nhân Chính Lawyer luật sư luật sư giỏi Luật sư tại Hà Nội Luật sư uy tín Luật sư nổi tiếng Luật sư giỏi Hà Nội Luật sư Hà Nội luật sư việt nam luật sư tranh tụng Luật sư tố tụng Luật sư tư vấn luật sư bào chữa Luật sư hình sự Luật sư dân sự Luật sư đất đai Luật sư tư vấn đất đai Luật sư nhà đất Luật sư thừa kế Luật sư Ly hôn Luật sư thu hồi đất Luật sư thu hồi nợ Luật sư doanh nghiệp Luật sư sở hữu trí tuệ luật sư lao động Luật sư Hải Phòng Luật sư Phú Thọ Luật sư Quảng Ninh Luật sư Bắc Ninh Luật sư Ninh Bình Luật sư Hưng Yên Luật sư Tuyên Quang Luật sư Lào Cai Luật sư Sơn La Luật sư Lai Châu Luật sư Điện Biên Luật sư Lạng Sơn Luật sư Thái Nguyên Luật sư Cao Bằng Luật sư Thanh Hóa Luật sư Nghệ An Luật sư Hà Tĩnh Luật sư Quảng Trị Luật sư Thừa Thiên Huế Luật sư Đà Nẵng Luật sư Quảng Ngãi Luật sư Gia Lai Luật sư Đắk Lắk Luật sư Khánh Hòa Luật sư Lâm Đồng Luật sư Đồng Nai Luật sư Tây Ninh Luật sư Cần Thơ Luật sư An Giang Luật sư Đồng Tháp Luật sư Cà Mau Luật sư Vĩnh Long Luật sư Tiền Giang Luật sư Sài Gòn Luật sư Hồ Chí Minh 0983951338 0936683699