Language:

Kết quả tìm kiếm

Quyết định, Công văn, Thông báo... có được xác định là quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính không?

Quyết định, Công văn, Thông báo... có được xác định là quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính không?

Vướng mắc: Khi đã hết thời hiệu khiếu nại thì người khiếu nại mới có đơn khiếu nại quyết định hành chính đến cơ quan, người có thẩm quyền. Việc khiếu nại quá thời hiệu là không có lý do chính đáng. Do việc khiếu nại gay gắt, nhiều lần nên cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản (Quyết định, Công văn, Thông báo,…) có nội dung cho rằng quyết định hành chính đã được ban hành theo đúng quy định của pháp luật. Người khiếu nại không đồng ý nên đã có đơn khởi kiện đối với văn bản này. Vậy có xác định văn bản hành chính trên là quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính không? Nếu xác định là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính thì khi giải quyết vụ án có phải xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính ban đầu hay không?
Theo quy định tại các khoản 2, 3 Điều 196 của Luật Tố tụng hành chính, Tòa án 02 lần gửi bản án, "01 chưa có hiệu lực, 01 có hiệu lực pháp luật" cho Viện kiểm sát cùng cấp có đúng không?

Theo quy định tại các khoản 2, 3 Điều 196 của Luật Tố tụng hành chính, Tòa án 02 lần gửi bản án, "01 chưa có hiệu lực, 01 có hiệu lực pháp luật" cho Viện kiểm sát cùng cấp có đúng không?

Vướng mắc: Theo quy định tại các khoản 2, 3 Điều 196 của Luật Tố tụng hành chính thì: “2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải cấp, gửi bản án cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp; 3. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà không có kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp, gửi bản án đã có hiệu lực pháp luật cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, cơ quan cấp trên trực tiếp của người bị kiện”. Theo quy định này thì Tòa án 02 lần gửi bản án (01 bản án chưa có hiệu lực, 01 bản án có hiệu lực pháp luật) cho Viện kiểm sát cùng cấp có đúng không?
Trường hợp đất đai của hộ gia đình nhưng đã được một thành viên trong hộ lén lút đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển nhượng. Tòa án sẽ xử lý ra sao?

Trường hợp đất đai của hộ gia đình nhưng đã được một thành viên trong hộ lén lút đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển nhượng. Tòa án sẽ xử lý ra sao?

Vướng mắc: Trường hợp đất đai của hộ gia đình nhưng đã được ông A (một thành viên trong hộ) lén lút đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó ông A chuyển nhượng cho ông B; Ông B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tiếp tục chuyển nhượng cho ông C. Ông C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, các thành viên hộ gia đình phát hiện hiện ra việc kê khai gian dối để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đã khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông C. Trường hợp này, Tòa án chỉ hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông C hay hủy cả giấy chứng nhận đứng tên ông A, ông B.
Quyết định hành chính hết thời hiệu khởi kiện, quyết định giải quyết khiếu nại còn thời hiệu khởi kiện, chỉ khởi kiện quyết định hành chính mà không khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại?

Quyết định hành chính hết thời hiệu khởi kiện, quyết định giải quyết khiếu nại còn thời hiệu khởi kiện, chỉ khởi kiện quyết định hành chính mà không khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại?

Vướng mắc: Quyết định hành chính hết thời hiệu khởi kiện, quyết định giải quyết khiếu nại còn thời hiệu khởi kiện, tuy nhiên người khởi kiện chỉ khởi kiện quyết định hành chính mà không khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại. Trường hợp này Tòa án vẫn xem xét giải quyết hay đình chỉ vụ án do hết thời hiệu?
Văn bản của Văn phòng UBND cấp tỉnh thông báo kết luận của lãnh đạo UBND cấp tỉnh chỉ đạo thu hồi đất của hộ gia bị khởi kiện. Có xác định văn bản này là quyết định hành chính bị kiện?

Văn bản của Văn phòng UBND cấp tỉnh thông báo kết luận của lãnh đạo UBND cấp tỉnh chỉ đạo thu hồi đất của hộ gia bị khởi kiện. Có xác định văn bản này là quyết định hành chính bị kiện?

Vướng mắc: Văn bản của Văn phòng Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thông báo ý kiến kết luận của Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Uỷ ban nhân dân cấp huyện thu hồi đất của hộ gia đình (vì cho rằng giao đất không đúng đối tượng) bị khởi kiện. Tòa án có xác định văn bản này là quyết định hành chính bị khởi kiện hay không?
Tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu (Điều 401)

Tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu (Điều 401)

Luật sư Hà Thị Khuyên và Luật sư Nguyễn Văn Đồng, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, Tội phạm này trực tiếp xâm phạm kỷ luật trong chiến đấu và kỷ luật chiến trường, xâm phạm sức mạnh chiến đấu của Quân đội, ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu của đơn vị. Dưới đây, luật sư của chúng tôi phân tích cấu thành Tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu quy định tại Điều 401 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Chấm dứt nghĩa vụ khi bên có quyền là cá nhân chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại (Điều 382)

Chấm dứt nghĩa vụ khi bên có quyền là cá nhân chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại (Điều 382)

Luật sư Hà Thị Khuyên và Luật sư Nguyễn Văn Đồng, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 382 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc chấm dứt nghĩa vụ khi bên có quyền là cá nhân chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại. Theo đó, khi các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về việc nghĩa vụ được thực hiện chỉ dành cho cá nhân hoặc pháp nhân là bên có quyền mà cá nhân chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại thì nghĩa vụ cũng chấm dứt.
Tội đào ngũ (Điều 402)

Tội đào ngũ (Điều 402)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, Tội đào ngũ trực tiếp xâm phạm chế độ nghĩa vụ quân sự, chế độ phục vụ của sỹ quan trong Quân đội, làm giảm sức mạnh chiến đấu của Quân đội, ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Dưới đây, luật sư của chúng tôi phân tích cấu thành Tội đào ngũ quy định tại Điều 402 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Chấm dứt nghĩa vụ khi vật đặc định không còn (Điều 383)

Chấm dứt nghĩa vụ khi vật đặc định không còn (Điều 383)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 383 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc chấm dứt nghĩa vụ khi vật đặc định không còn. Theo đó, nghĩa vụ giao vật chấm dứt trong trường hợp vật phải giao là vật đặc định không còn. Các bên có thể thỏa thuận thay thế vật khác hoặc bồi thường thiệt hại.
Tội trốn tránh nhiệm vụ (Điều 403)

Tội trốn tránh nhiệm vụ (Điều 403)

Luật sư Hà Thị Khuyên và Luật sư Nguyễn Văn Đồng, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, Tội trốn tránh nhiệm vụ trực tiếp xâm phạm chế độ thực hiện nghĩa vụ quân sự, trách nhiệm phục vụ trong Quân đội của quân nhân, xâm phạm kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội, ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Dưới đây, luật sư của chúng tôi phân tích cấu thành Tội trốn tránh nhiệm vụ quy định tại Điều 403 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Chấm dứt nghĩa vụ trong trường hợp phá sản (Điều 384)

Chấm dứt nghĩa vụ trong trường hợp phá sản (Điều 384)

Luật sư Hà Thị Khuyên và Luật sư Nguyễn Văn Đồng, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 384 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc chấm dứt nghĩa vụ trong trường hợp phá sản. Theo đó, trường hợp phá sản thì nghĩa vụ chấm dứt theo quy định của Luật phá sản. Phương pháp bù trừ nghĩa vụ được quy định tại Khoản 3 Điều 63 Luật Phá sản năm 2014.
Khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự là tổng số tiền lãi thu được từ việc cho vay hay là khoản tiền lãi thu được sau khi trừ đi tiền lãi theo quy định Bộ luật Dân sự?

Khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự là tổng số tiền lãi thu được từ việc cho vay hay là khoản tiền lãi thu được sau khi trừ đi tiền lãi theo quy định Bộ luật Dân sự?

Vướng mắc: Về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (quy định tại Điều 201 của Bộ luật Hình sự). Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự thì: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay...”. Do đó, khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự là số tiền lãi thu được sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự.