Language:

Kết quả tìm kiếm

Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008, sửa đổi năm 2014

Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008, sửa đổi năm 2014

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính giới thiệu Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008, sửa đổi năm 2014. Luật này quy định về đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, người nộp thuế, căn cứ tính thuế, hoàn thuế, khấu trừ thuế và giảm thuế tiêu thụ đặc biệt.
Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008, sửa đổi năm 2016

Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008, sửa đổi năm 2016

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính giới thiệu Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008, sửa đổi năm 2016. Luật này quy định về đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, người nộp thuế, căn cứ và phương pháp tính thuế, khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng. Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Luật Quản lý thuế năm 2019

Luật Quản lý thuế năm 2019

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính giới thiệu Luật Quản lý thuế năm 2019. Luật này quy định việc quản lý các loại thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước. Người nộp thuế bao gồm tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế; tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân nộp các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước; tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế.
Quyền của bên cung ứng dịch vụ (Điều 518)

Quyền của bên cung ứng dịch vụ (Điều 518)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 518 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền của bên cung ứng dịch vụ. Theo đó, bên cung ứng dịch vụ có quyền yêu cầu bên sử dụng dịch vụ cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện để thực hiện công việc. Được thay đổi điều kiện dịch vụ vì lợi ích của bên sử dụng dịch vụ mà không nhất thiết phải chờ ý kiến của bên sử dụng dịch vụ, nếu việc chờ ý kiến sẽ gây thiệt hại cho bên sử dụng dịch vụ, nhưng phải báo ngay cho bên sử dụng dịch vụ. Yêu cầu bên sử dụng dịch vụ trả tiền dịch vụ.
Quan điểm luật sư vụ người phụ nữ nhiễm dioxin tố bị nơi làm việc cưỡng đoạt tiền

Quan điểm luật sư vụ người phụ nữ nhiễm dioxin tố bị nơi làm việc cưỡng đoạt tiền

Dưới góc độ pháp lý, Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư  Nhân Chính (Đoàn Luật sư TP. Hà Nội) cho biết, nếu sự thật đúng như nội dung bà Sen phản ánh với báo chí thì hành vi của cán bộ, lãnh đạo trung tâm này là vô đạo đức, vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Vì thế cơ quan chức năng cần vào cuộc xác minh, thanh tra, kiểm tra toàn diện đối với trung tâm này về hồ sơ giấy phép thành lập, chương trình giáo dục - can thiệp, tổ chức quản lý, đội ngũ nhân sự, thu chi học phí, cơ sở vật chất… nếu có vi phạm cần kiên quyết xử lý.
Trả tiền dịch vụ (Điều 519)

Trả tiền dịch vụ (Điều 519)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 519 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc trả tiền dịch vụ. Theo đó, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ theo thỏa thuận. Khi giao kết hợp đồng, nếu không có thỏa thuận về giá dịch vụ, phương pháp xác định giá dịch vụ và không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác về giá dịch vụ thì giá dịch vụ được xác định căn cứ vào giá thị trường của dịch vụ cùng loại tại thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng.
Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ (Điều 520)

Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ (Điều 520)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 520 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ. Theo đó, trường hợp việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho bên sử dụng dịch vụ thì bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nhưng phải báo cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời gian hợp lý; bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền công theo phần dịch vụ mà bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện và bồi thường thiệt hại. Trường hợp bên sử dụng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên cung ứng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Tiếp tục hợp đồng dịch vụ (Điều 521)

Tiếp tục hợp đồng dịch vụ (Điều 521)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 521 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tiếp tục hợp đồng dịch vụ. Theo đó, sau khi kết thúc thời hạn thực hiện công việc theo hợp đồng dịch vụ mà công việc chưa hoàn thành và bên cung ứng dịch vụ vẫn tiếp tục thực hiện công việc, bên sử dụng dịch vụ biết nhưng không phản đối thì hợp đồng dịch vụ đương nhiên được tiếp tục thực hiện theo nội dung đã thỏa thuận cho đến khi công việc được hoàn thành.
Hợp đồng vận chuyển hành khách (Điều 522)

Hợp đồng vận chuyển hành khách (Điều 522)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 522 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định hợp đồng vận chuyển hành khách. Theo đó, hợp đồng vận chuyển hành khách là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vận chuyển chuyên chở hành khách, hành lý đến địa điểm đã định theo thỏa thuận, hành khách phải thanh toán cước phí vận chuyển.
Vi phạm về nhãn hàng hóa bị xử phạt ra sao?

Vi phạm về nhãn hàng hóa bị xử phạt ra sao?

Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) phân tích, Nghị định số 119/2017/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 126/2021/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa; hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ; năng lượng nguyên tử, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2022 quy định. Tại Điều 30, 31 của nghị định quy định hành vi “vi phạm quy định về ghi nhãn hàng hóa trong kinh doanh sản phẩm, hàng hóa”; “vi phạm quy định về nội dung bắt buộc trên nhãn hàng hóa hoặc nội dung bắt buộc phải thể hiện trên nhãn theo tính chất hàng hóa” mức phạt thấp nhất là 500 nghìn đồng và mức phạt cao nhất là 30.000.000 đồng.
Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc bị xử phạt ra sao?

Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc bị xử phạt ra sao?

Luật sư Nguyễn Văn Đồng, Văn phòng Luật sư Nhân Chính (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) phân tích, căn cứ khoản 1 Điều 3 Nghị định 31/2018/NĐ-CP giải thích nguồn gốc “xuất xứ hàng hóa” là nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó. Đối với những sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ khác nhau sẽ được hưởng những ưu đãi về thuế quan khác nhau. Hiện nay chúng ta có 3 mức thuế, bao gồm thuế ưu đãi, thuế thường và thuế trả đũa. Các quốc gia sẽ căn cứ vào xuất xứ của các hàng hóa để xác định đâu là mặt hàng được hưởng những ưu đãi về thuế theo các thỏa thuận thương mại và đâu là không.
Vi phạm về niêm yết giá hàng hóa bị xử phạt ra sao?

Vi phạm về niêm yết giá hàng hóa bị xử phạt ra sao?

Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) phân tích, tại khoản 6, Điều 4, Luật Giá năm 2012, thì “niêm yết giá” là việc tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thông báo công khai bằng các hình thức thích hợp, rõ ràng và không gây nhầm lẫn cho khách hàng về mức giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bằng Đồng Việt Nam bằng cách in, dán, ghi giá trên bảng, trên giấy hoặc trên bao bì của hàng hóa hoặc bằng hình thức khác tại nơi giao dịch hoặc nơi chào bán hàng hóa, dịch vụ để thuận tiện cho việc quan sát, nhận biết của khách hàng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền.