Language:
Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân (Điều 586)
23/03/2024
icon-zalo

Theo quy định pháp luật, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự, theo đó, người vi phạm nghĩa vụ pháp lý gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất do mình gây ra mà giữa người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại và người bị thiệt hại không giao kết hợp đồng hoặc có hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc hành vi thực hiện hợp đồng. Vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định tại Chương XX của Bộ luật Dân sự năm 2015 từ Điều 584 đến Điều 608. Hành vi gây thiệt hại có thể được thực hiện bởi bất kỳ chủ thể nào trong xã hội nhưng không phải chủ thể nào cũng có khả năng thực hiện việc bồi thường, việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường còn phụ thuộc vào năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của từng chủ thể.

Trong pháp luật dân sự thì năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự bao gồm quyền nhân thân không gắn liền với tài sản và quyền nhân thân gắn liền với tài sản; quyền sở hữu, quyền thừa kế và quyền khác đối với tài sản; quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó. Còn năng lực hành vi dân sự là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân phụ thuộc vào độ tuổi và khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của cá nhân. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân thuộc phạm vi pháp luật dân sự nên về bản chất vẫn được xác định theo năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự.

Tại Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân. Theo đó, "người từ đủ mười tám tuổi" trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường. "Người chưa đủ mười lăm tuổi" gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật Dân sự. "Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi" gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. "Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi" gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người từ đủ 18 tuổi:

Theo quy định pháp luật thì người từ đủ 18 tuổi là nhóm người thành niên có đầy đầy đủ năng lực hành vi dân sự, thì phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình, trong đó có cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Khi xem xét đến trách nhiệm của người từ đủ 18 tuổi trở lên, cần xác định năng lực kinh tế của họ. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không chỉ phụ thuộc vào năng lực hành vi mà còn phụ thuộc cả vào năng lực kinh tế của chủ thể đó, người đủ 18 tuy có đầy đủ năng lực hành vi, nhưng khả năng tài sản trên thực tế vẫn chưa có. Thông thường họ chưa có bất kỳ khoản thu nhập nào, vì thế tài sản để chịu trách nhiệm bồi thường là không có, khi quyết định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của những người này, có thể xem xét đến việc cha, mẹ thực hiện thay, người từ đủ 18 tuổi phải tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình, nên không thể buộc cha, mẹ phải thực hiện thay trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho con cái của họ, mà chỉ có thể động viên và ghi nhận sự tự nguyện của người này.

Theo quy định pháp luật, người dưới 18 tuổi là những người chưa thành niên, chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Khi họ có hành vi gây thiệt hại, việc xác định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường phụ thuộc vào độ tuổi của họ tại thời điểm gây thiệt hại mà có sự khác nhau trong quy định của pháp luật, theo đó:

Năng lực chịu trách nhiệm của người chưa đủ 15 tuổi:

Người dưới 15 tuổi có thể có một phần năng lực hành vi dân sự, nhưng lại chưa đủ năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, vì vậy cha mẹ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại; nhóm người này vẫn đang chịu sự quản lý, chăm sóc của cha mẹ và đang trong thời kỳ hoàn thiện nhận thức về hành vi của mình và hậu quả đem lại. Vì thế khi họ có hành vi gây thiệt hại, cha mẹ với tư cách là người giám hộ có một phần lỗi trong việc giáo dục, quản lý con cái phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị thiệt hại. Nếu tài sản của cha mẹ mà không đủ để chịu trách nhiệm bồi thường, thì phần còn lại được trích ra từ tài sản riêng của con cái, đây là quy định không nhằm xác định trách nhiệm của con cái với phần bồi thường còn thiếu mà nhằm bảo vệ lợi ích cho người bị thiệt hại, đảm bảo nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời theo quy định pháp luật, trong trường hợp người chưa đủ 15 tuổi trong thời hạn trường học trực tiếp quản lý mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.

Năng lực chịu trách nhiệm của người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi:

Độ tuổi từ 15 đến dưới 18 tuổi được xác định là có một phần năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, vậy nên họ phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại gây ra bằng tài sản của mình. Bởi pháp luật quy định, người trong độ tuổi này có tham gia ký kết các hợp đồng lao động để có thu nhập riêng, người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi có thể không có tài sản riêng, lúc này để bảo vệ lợi ích của bên bị thiệt hại pháp luật buộc cha, mẹ phải bồi thường thiệt hại thay con cái, có thể thấy quy định này khác với quy định đối với người từ đủ 8 tuổi. Đối với người từ đủ 18 tuổi, việc cha mẹ chịu trách nhiệm bồi thường thay con cái mang tính chất tự nguyện, không bị bắt buộc khi con cái không có tài sản riêng. Nhưng đối với người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi thì cha mẹ có nghĩa vụ bắt buộc phải chịu trách nhiệm thay con cái khi con cái không có tài sản riêng. Trên thực tế, mặc dù cho phép người từ đủ 15 tuổi có thể tham gia ký kết các hợp đồng lao động, nhưng thông thường ở độ tuổi này phần lớn vẫn đang đi học, được cha mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng. Những tài sản riêng hình thành từ nguồn khác như được thừa kế, được tặng cho không phổ biến. Vì vậy, việc chịu trách nhiệm bồi thường chủ yếu do cha mẹ thực hiện.

Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người được giám hộ:

Theo quy định pháp luật những người được giám hộ là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi. Theo quy định của pháp luật, khi người được giám hộ gây thiệt hại thì đặt ra hai trường hợp: (1) Người được giám hộ có tài sản riêng, nếu người được giám hộ gây thiệt hại mà có tài sản riêng thì người giám hộ được dùng tài sản đó để bồi thường; (2) Người được giám hộ không có tài sản hoặc tài sản không đủ để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; đây là quy định nhằm ràng buộc trách nhiệm của người giám hộ trong việc thực hiện tốt công việc quản lý, chăm sóc người được giám hộ, đồng thời bảo vệ lợi ích của người bị thiệt hại, nhưng nếu người giám hộ chứng minh được họ không có lỗi trong việc giám hộ thì họ không phải lấy tài sản của mình để bồi thường. 

Điều 586. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân

1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.

2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

Văn phòng Luật sư Nhân Chính

Liên hệ luật sư: 0936683699 - 0983951338

Tags
Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Cá nhân bồi thường thiệt hại Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Người từ đủ mười tám tuổi gây thiệt hại Tự bồi thường Người chưa đủ mười lăm tuổi Gây thiệt hại Cha mẹ bồi thường toàn bộ thiệt hại Con chưa thành niên gây thiệt hại Tài sản riêng Bồi thường phần còn thiếu Người từ đủ mười lăm đến chưa đủ mười tám Bồi thường bằng tài sản của mình Không đủ tài sản để bồi thường Cha mẹ bồi thường phần còn thiếu người chưa thành niên Người mất năng lực hành vi dân sự Người có khó khăn trong nhận thức Người có khó khăn trong làm chủ hành vi Người giám hộ Tài sản của người được giám hộ Người giám hộ bồi thường thay Người giám hộ không có tài sản Người giám hộ bồi thường bằng tài sản của mình Người giám hộ chứng minh mình không có lỗi Giám hộ Không phải lấy tài sản của mình để bồi thường hợp đồng Ngoài hợp đồng Tranh chấp bồi thường ngoài hợp đồng Điều 586 Bộ luật dân sự năm 2015 Dịch vụ luật sư Dịch vụ luật sư uy tín Dịch vụ pháp lý Danh sách luật sư Hà Nội Danh bạ luật sư Đoàn luật sư Hà Nội Liên đoàn luật sư Việt Nam Luật luật sư Đồng luật sư nguyễn văn đồng luật sư khuyên luật sư hà thị khuyên Nhân chính Nhanchinh.vn Luật Nhân Chính Văn phòng Luật sư Nhân Chính Nhân Chính Law Firm Lawyer Tư vấn luật Tư vấn pháp luật Cần tìm luật sư Tìm luật sư Tìm luật sư giỏi luật sư luật sư giỏi Luật sư tại Hà Nội Luật sư uy tín Luật sư giỏi Hà Nội Luật sư Hà Nội luật sư việt nam luật sư tranh tụng Luật sư tố tụng Luật sư tư vấn Luật sư giải quyết tranh chấp luật sư bào chữa Luật sư hình sự Luật sư dân sự Luật sư giải quyết án hành chính Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Luật sư hợp đồng Luật sư giải quyết tranh chấp hợp đồng Luật sư đất đai Luật sư tư vấn đất đai Luật sư nhà đất Luật sư giải quyết tranh chấp đất đai Luật sư thừa kế Luật sư giải quyết tranh chấp thừa kế Luật sư Ly hôn Luật sư hôn nhân và gia đình Luật sư thu hồi nợ Luật sư kinh doanh thương mại Luật sư doanh nghiệp Luật sư sở hữu trí tuệ luật sư lao động Luật sư nổi tiếng Luật sư hòa giải luật sư đối thoại Luật sư đàm phán Luật sư quận Ba Đình Luật sư quận Cầu Giấy Luật sư quận Hoàn Kiếm Luật sư quận hai bà trưng Luật sư quận Đống Đa Luật sư quận Tây Hồ Luật sư Quận Thanh Xuân Luật sư quận Bắc Từ Liêm Luật sư quận Hà Đông Luật sư quận Long Biên Luật sư quận nam Từ Liêm Luật sư huyện Ba Vì Luật sư huyện Chương Mỹ Luật sư huyện Đan Phượng Luật sư huyện Đông Anh Luật sư huyện Gia Lâm Luật sư huyện Hoài Đức Luật sư huyện Mê Linh Luật sư huyện Mỹ Đức Luật sư huyện Phú Xuyên Luật sư huyện Phúc Thọ Luật sư huyện Quốc Oai Luật sư huyện Sóc Sơn Luật sư huyện Thạch Thất Luật sư huyện Thanh Oai Luật sư huyện Thanh Trì Luật sư huyện Thường Tín Luật sư huyện Ứng Hòa Luật sư thị xã Sơn Tây Pháp luật Pháp lý Văn phòng luật Văn phòng luật sư Văn phòng luật sư uy tín Văn phòng luật sư uy tín tại Hà Nội Văn phòng luật sư gần nhất Văn phòng luật sư Hà Nội Công ty luật Tổ chức hành nghề luật sư 0983951338 0936683699