Language:

Kết quả tìm kiếm

Một bên tham gia hòa giải, đối thoại có yêu cầu thay đổi thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án không công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành thì Tòa án xử lý như thế nào?

Một bên tham gia hòa giải, đối thoại có yêu cầu thay đổi thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án không công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành thì Tòa án xử lý như thế nào?

Vướng mắc: Tại biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại, các bên đã yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành. Tuy nhiên, trong quá trình Tòa án xem xét để ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành thì một bên tham gia hòa giải, đối thoại có yêu cầu thay đổi thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án không công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành thì Tòa án xử lý như thế nào?
Theo Điều 40 Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án thì mức thù lao cho Hoà giải viên từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng trên vụ việc, Tòa án ấn định mức thù lao đối với từng vụ việc ra sao?

Theo Điều 40 Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án thì mức thù lao cho Hoà giải viên từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng trên vụ việc, Tòa án ấn định mức thù lao đối với từng vụ việc ra sao?

Vướng mắc: Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 9 Nghị định 16/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết mức thu, trình tự, thủ tục thu, nộp, việc quản lý, sử dụng chi phí hoà giải, đối thoại tại Toà án và thù lao Hoà giải viên tại Toà án đối với các vụ, việc chấm dứt hoà giải, đối thoại theo quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án thì mức thù lao cho Hoà giải viên là từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng/vụ việc. Vậy, Tòa án ấn định mức thù lao đối với từng vụ việc cụ thể như thế nào?
Khi tiến hành phiên hoà giải, đối thoại theo Điều 25 Luật Hòa giải đối thoại tại Toà án thì Hòa giải viên có được lập biên bản hòa giải, đối thoại sau mỗi phiên hòa giải, đối thoại hay không?

Khi tiến hành phiên hoà giải, đối thoại theo Điều 25 Luật Hòa giải đối thoại tại Toà án thì Hòa giải viên có được lập biên bản hòa giải, đối thoại sau mỗi phiên hòa giải, đối thoại hay không?

Vường mắc: Khi tiến hành phiên hoà giải, đối thoại theo Điều 25 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Toà án thì Hòa giải viên có được lập biên bản hòa giải, đối thoại sau mỗi phiên hòa giải, đối thoại hay không? Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 của Toà án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử.
Khiển trách (Điều 93)

Khiển trách (Điều 93)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, nhằm đáp ứng nhu cầu răn đe đồng thời cải tạo, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định 02 biện pháp tư pháp mới, gồm biện pháp khiển trách quy định tại Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 2015 và biện pháp hòa giải tại cộng đồng quy định tại Điều 94 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hợp đồng vô hiệu (Điều 407)

Hợp đồng vô hiệu (Điều 407)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 407 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hợp đồng vô hiệu. Quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật Dâm sự cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu. Sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính. Quy định này không áp dụng đối với biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Điều kiện áp dụng (Điều 92)

Điều kiện áp dụng (Điều 92)

Luật sư Hà Thị Khuyên và Luật sư Nguyễn Văn Đồng, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, khiển trách, hòa giải tại cộng đồng và giáo dục tại xã, phường, thị trấn là các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự và được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Dưới đây, luật sư của chúng tôi phân tích quy định về "Điều kiện án dụng" các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi quy định tại Điều 92 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 91)

Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 91)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, phù hợp với tinh thần Công ước quốc tế về quyền trẻ em, nguyên tắc việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải đảm bảo lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi. Dưới đây, luật sư của chúng tôi phân tích về "Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội" quy định tại Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Áp dụng Bộ luật Hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 90)

Áp dụng Bộ luật Hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 90)

Luật sư Hà Thị Khuyên và Luật sư Nguyễn Văn Đồng, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, theo quy định tại điều 90 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định Chương XII - Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Điều luật quy định nguyên tắc áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Theo đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định riêng chỉ áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và những quy định chung không trái với những quy định riêng này.
Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được (Điều 408)

Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được (Điều 408)

Luật sư Hà Thị Khuyên và Luật sư Nguyễn Văn Đồng, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 408 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được. Theo đó, trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu. Trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được. Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 408 Bộ luật Dân sự cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực.
Thực hiện hợp đồng đơn vụ (Điều 409)

Thực hiện hợp đồng đơn vụ (Điều 409)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 409 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc thực hiện hợp đồng đơn vụ. Theo đó, đối với hợp đồng đơn vụ, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng như đã thỏa thuận, chỉ được thực hiện trước hoặc sau thời hạn nếu được bên có quyền đồng ý.
Xóa án tích (Điều 89)

Xóa án tích (Điều 89)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội mới.
Miễn hình phạt (Điều 88)

Miễn hình phạt (Điều 88)

Luật sư Hà Thị Khuyên và Luật sư Nguyễn Văn Đồng, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, miễn hình phạt là việc Tòa án không buộc người phạm tội phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt về tội mà người đó đã thực hiện. Cũng giống như miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt chỉ đặt ra cho những trường hợp nếu như việc truy cứu trách nhiệm hình sự hay áp dụng hình phạt đối với họ là không cần thiết, không đạt được mục đích của hình phạt hoặc trái với nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự Việt Nam.