Language:

Kết quả tìm kiếm

Hợp đồng trao đổi tài sản (Điều 455)

Hợp đồng trao đổi tài sản (Điều 455)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 455 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hợp đồng trao đổi tài sản. Theo đó, hợp đồng trao đổi tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản cho nhau; hợp đồng trao đổi tài sản phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký, nếu pháp luật có quy định.
Đi du học có được tạm hoãn nghĩa vụ quân sự không?

Đi du học có được tạm hoãn nghĩa vụ quân sự không?

Luật sư Nguyễn Văn Đồng thuộc Văn phòng Luật sư Nhân Chính (Đoàn Luật sư TP. Hà Nội) phân tích, tại Điều 30 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định độ tuổi đi nghĩa vụ quân sự là từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi. Riêng trường hợp công dân được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ thì độ tuổi gọi nhập ngũ đến hết năm 27 tuổi.
Trách nhiệm pháp lý vụ tài xế ô tô tải chèn ngã xe máy trên phố Hà Nội rồi bỏ chạy?

Trách nhiệm pháp lý vụ tài xế ô tô tải chèn ngã xe máy trên phố Hà Nội rồi bỏ chạy?

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính cho biết, tại khoản 6, 17, 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định những hành vi bị nghiêm cấm trong đó có hành vi lạng lách, đánh võng, bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm; vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Ngoài ra, các quy định này đã được cụ thể hóa trong Nghị định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực giao thông đường bộ, thậm chí nếu hậu quả nghiêm trọng còn phải chịu trách nhiệm hình sự.
Thanh toán giá trị chênh lệch (Điều 456)

Thanh toán giá trị chênh lệch (Điều 456)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 456 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thanh toán giá trị chênh lệch. Theo đó, trường hợp tài sản trao đổi chênh lệch về giá trị thì các bên phải thanh toán cho nhau phần chênh lệch đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Hợp đồng tặng cho tài sản (Điều 457)

Hợp đồng tặng cho tài sản (Điều 457)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hợp đồng tặng cho tài sản. Theo đó, hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận.
Tặng cho động sản (Điều 458)

Tặng cho động sản (Điều 458)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 458 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc tặng cho động sản. Theo đó, hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.
Tặng cho bất động sản (Điều 459)

Tặng cho bất động sản (Điều 459)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc tặng cho bất động sản. Theo đó, tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.
Trách nhiệm do cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình (Điều 460)

Trách nhiệm do cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình (Điều 460)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 460 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trách nhiệm do cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình. Theo đó, trường hợp bên tặng cho cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình mà bên được tặng cho không biết hoặc không thể biết về việc đó thì bên tặng cho phải thanh toán chi phí để làm tăng giá trị của tài sản cho bên được tặng cho khi chủ sở hữu lấy lại tài sản.
Việc xác định địa danh làng xã chế độ cũ của một số trường hợp cha mẹ đã đăng ký, hiện nay là phường, xã nào, đăng ký khai sinh trước đây ở tỉnh khác

Việc xác định địa danh làng xã chế độ cũ của một số trường hợp cha mẹ đã đăng ký, hiện nay là phường, xã nào, đăng ký khai sinh trước đây ở tỉnh khác

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, theo hướng dẫn tại Công văn số 1024/HTQTCT-HT ngày 13/7/2016 của Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực - Bộ Tư pháp thì: “Trường hợp không xác định được UBND xã nào đã tiếp nhận bàn giao công tác đăng ký, quản lý hộ tịch của công dân trước đây hoặc không còn lưu giữ được Sổ hộ tịch, thì cho phép công dân lập văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trước đây và hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung cam đoan đó”.
Trường hợp người dân vẫn mong muốn đặt tên con theo niên hiệu thứ bậc đã tồn tại trước đây

Trường hợp người dân vẫn mong muốn đặt tên con theo niên hiệu thứ bậc đã tồn tại trước đây

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, ngày 26 tháng 6 năm 2017, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực – Bộ Tư pháp đã có Công văn số 611/HTQTCT-HT hướng dẫn về việc xác định họ cho trẻ em đối với một số trường hợp đăng ký khai sinh liên quan đến việc xác định họ theo dòng họ Nguyễn Phước Tộc, cụ thể: “Việc xác định họ cho con được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ Luật dân sự năm 2015: “Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha, mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán”.
Thông báo khuyết tật của tài sản tặng cho (Điều 461)

Thông báo khuyết tật của tài sản tặng cho (Điều 461)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 461 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc thông báo khuyết tật của tài sản tặng cho. Theo đó, bên tặng cho có nghĩa vụ thông báo cho bên được tặng cho khuyết tật của tài sản tặng cho. Trường hợp bên tặng cho biết tài sản có khuyết tật mà không thông báo thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra cho người được tặng cho; nếu bên tặng cho không biết về khuyết tật của tài sản tặng cho thì không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Tặng cho tài sản có điều kiện (Điều 462)

Tặng cho tài sản có điều kiện (Điều 462)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, Tại Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc tặng cho tài sản có điều kiện. Theo đó, bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.