Language:

Kết quả tìm kiếm

Sửa chữa vật trong thời hạn bảo hành (Điều 448)

Sửa chữa vật trong thời hạn bảo hành (Điều 448)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 448 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc sửa chữa vật trong thời hạn bảo hành. Theo đó, bên bán phải sửa chữa vật và bảo đảm vật có đủ các tiêu chuẩn chất lượng hoặc có đủ các đặc tính đã cam kết; bên bán chịu chi phí về sửa chữa và vận chuyển vật đến nơi sửa chữa và từ nơi sửa chữa đến nơi cư trú hoặc trụ sở của bên mua.
Giải pháp nào cho việc chống mua bán 02 giá trong chuyển nhượng bất động sản

Giải pháp nào cho việc chống mua bán 02 giá trong chuyển nhượng bất động sản

Luật sư Nguyễn Văn Đồng thuộc Văn phòng Luật sư Nhân Chính (Đoàn Luật sư TP. Hà Nội) cho biết, muốn giải quyết triệt để vấn đề kê khai hai giá trên hợp đồng chuyển nhượng thì then chốt vẫn là sửa đổi Bảng giá đất của Nhà nước quy định giá đất ở từng địa phương, nếu giá đất trong Bảng giá đất của từng địa phương nâng lên ngang giá thị trường thì việc người dân phải ghi giá mua bán tối thiểu bằng Bảng giá đất do nhà nước quy định, nếu điều chỉnh bảng giá đất của Nhà nước ngang giá thì trường tôi cho rằng người dân cũng sẽ rất hưởng hứng bởi chính sự điều chỉnh này sẽ có lợi cho họ nếu Nhà nước thu hồi đất giá bồi thường sẽ tương xứng. Nên để giải quyết triệt để việc mua bán hai giá trong hợp đồng mua bán thì việc điều chỉnh bảng giá đất của nhà nước ngang giá thị trường là việc nên làm ngay.
Bồi thường thiệt hại trong thời hạn bảo hành (Điều 449)

Bồi thường thiệt hại trong thời hạn bảo hành (Điều 449)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 449 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại trong thời hạn bảo hành. Theo đó, ngoài việc yêu cầu thực hiện các biện pháp bảo hành, bên mua có quyền yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại do khuyết tật về kỹ thuật của vật gây ra trong thời hạn bảo hành. Bên bán không phải bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra do lỗi của bên mua. Bên bán được giảm mức bồi thường thiệt hại nếu bên mua không áp dụng các biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép nhằm ngăn chặn, hạn chế thiệt hại.
Mua bán quyền tài sản (Điều 450)

Mua bán quyền tài sản (Điều 450)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 450 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc mua bán quyền tài sản. Theo đó, trường hợp mua bán quyền tài sản thì bên bán phải chuyển giấy tờ và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho bên mua, bên mua phải trả tiền cho bên bán. Trường hợp quyền tài sản là quyền đòi nợ và bên bán cam kết bảo đảm khả năng thanh toán của người mắc nợ thì bên bán phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán, nếu khi đến hạn mà người mắc nợ không trả. Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với quyền tài sản là thời điểm bên mua nhận được giấy tờ về quyền sở hữu đối với quyền tài sản đó hoặc từ thời điểm đăng ký việc chuyển quyền sở hữu, nếu pháp luật có quy định.
Những trường hợp đăng ký lại khai sinh không có giấy tờ chứng minh mối quan hệ cha, mẹ con, thì giải quyết thế nào?

Những trường hợp đăng ký lại khai sinh không có giấy tờ chứng minh mối quan hệ cha, mẹ con, thì giải quyết thế nào?

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, theo hướng dẫn tại Công văn số 1013/HTQTCT-HT ngày 08/7/2016 của Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực - Bộ Tư pháp thì: “Trường hợp đăng ký lại khai sinh hoặc đăng ký khai sinh cho người đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân mà người yêu cầu không có giấy tờ, tài liệu chứng minh quan hệ cha con, mẹ con thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiến hành kiểm tra, xác minh. Nếu kết quả kiểm tra, xác minh xác định được rõ mối quan hệ cha, mẹ, con thì cơ quan đăng ký hộ tịch ghi thông tin về cha, mẹ của người đăng ký khai sinh theo kết quả kiểm tra, xác minh. Trường hợp kết quả xác minh cũng không thể xác định được thông tin về quan hệ cha, mẹ, con thì phần khai về cha, mẹ tạm thời để trống”.
Bán đấu giá tài sản (Điều 451)

Bán đấu giá tài sản (Điều 451)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 451 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về bán đấu giá tài sản. Theo đó, tài sản có thể được đem bán đấu giá theo ý chí của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật. Tài sản thuộc sở hữu chung đem bán đấu giá phải có sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu chung, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Việc bán đấu giá tài sản phải đảm bảo nguyên tắc khách quan, công khai, minh bạch, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia và được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
Mua sau khi sử dụng thử (Điều 452)

Mua sau khi sử dụng thử (Điều 452)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 452 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc mua sau khi sử dụng thử. Theo đó, các bên có thể thỏa thuận về việc bên mua được dùng thử vật mua trong một thời hạn gọi là thời hạn dùng thử. Trong thời hạn dùng thử, bên mua có thể trả lời mua hoặc không mua; nếu hết thời hạn dùng thử mà bên mua không trả lời thì coi như đã chấp nhận mua theo các điều kiện đã thỏa thuận trước khi nhận vật dùng thử. Trường hợp các bên không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về thời hạn dùng thử thì thời hạn này được xác định theo tập quán của giao dịch có đối tượng cùng loại.
Mua trả chậm, trả dần (Điều 453)

Mua trả chậm, trả dần (Điều 453)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 453 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc mua trả chậm, trả dần. Theo đó, các bên có thể thỏa thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khi nhận tài sản mua. Bên bán được bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản. Bên mua có quyền sử dụng tài sản mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Yêu cầu bổ sung quê quán trong trong giấy khai sinh cấp trước đây, khi Giấy khai sinh và Sổ hộ tịch tại thời điểm đăng ký không có mục quê quán, Giấy khai sinh không có ngày tháng sinh?

Yêu cầu bổ sung quê quán trong trong giấy khai sinh cấp trước đây, khi Giấy khai sinh và Sổ hộ tịch tại thời điểm đăng ký không có mục quê quán, Giấy khai sinh không có ngày tháng sinh?

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, theo quy định tại khoản 13 Điều 4 Luật Hộ tịch thì: Bổ sung hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cập nhật thông tin hộ tịch còn thiếu cho cá nhân đã được đăng ký. Trường hợp biểu mẫu bản chính Giấy khai sinh được cấp trước đây không có mục ghi về quê quán, nay người dân có yêu cầu bổ sung thông tin về quê quán vào Giấy khai sinh, cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp nhận, giải quyết việc bổ sung hộ tịch; thông tin về quê quán được ghi vào mặt sau của Giấy khai sinh và cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh, sau đó cấp bản sao trích lục khai sinh với các thông tin đã được bổ sung cho người yêu cầu.
Những trường hợp cha, mẹ chết trước 1975 hiện không còn giấy chứng tử nên quy định này rất khó khăn cho người dân, thì giải quyết ra sao?

Những trường hợp cha, mẹ chết trước 1975 hiện không còn giấy chứng tử nên quy định này rất khó khăn cho người dân, thì giải quyết ra sao?

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại khoản 1 Điều 26 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP của Chính phủ và Điều 9 Thông tư số 15/2015/TT-BTP của Bộ Tư pháp quy định hồ sơ đăng ký lại khai sinh bao gồm: “Tờ khai đăng ký lại khai sinh, trong đó có cam đoan của người yêu cầu về việc đã đăng ký khai sinh nhưng không lưu giữ được bản chính Giấy khai sinh; bản sao toàn bộ hồ sơ, giấy tờ của người đăng ký lại khai sinh hoặc hồ sơ, giấy tờ, tài liệu khác trong đó có thông tin liên quan đến nội dung khai sinh”.
Quy định về thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật

Quy định về thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật

Luật sư Hà Thị Khuyên và Luật sư Nguyễn Văn Đồng, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc. Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Chuộc lại tài sản đã bán (Điều 454)

Chuộc lại tài sản đã bán (Điều 454)

Luật sư Nguyễn Văn Đồng và Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính phân tích, tại Điều 454 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc chuộc lại tài sản đã bán. Theo đó, bên bán có thể thỏa thuận với bên mua về quyền chuộc lại tài sản đã bán sau một thời hạn gọi là thời hạn chuộc lại. Thời hạn chuộc lại tài sản do các bên thỏa thuận; trường hợp không có thỏa thuận thì thời hạn chuộc lại không quá 01 năm đối với động sản và 05 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm giao tài sản, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.